04/06/2016

Ngũ vị tử

Ngũ vị tử là vị thuốc có đủ năm vị ngọt, chua, cay, đắng và mặn do đó đặt tên là Ngũ vị tử. Người ta phân biệt ra hai loại ngũ vị đó là Bắc ngũ vị tửNam ngũ vị tử.

Mô tả ngũ vị tử

Ngũ vị tử được chia ra làm 2 loại:
  1. Bắc ngũ vị tử (Fructus Schizandrae) còn gọi là ngũ vị tử, liêu ngũ vị, sơn hoa tiêu là quả chín phơi hay sấy khô của cây bắc ngũ vị tử (Schisandra) thuộc họ Ngũ vị. Cây bắc ngũ vị tử là một loại dây leo to, có thể mọc dài tới 8m, vỏ cành màu xám nâu với kẽ sần nổi rõ, cành nhỏ hơi có cạnh. Lá mọc so le, cuống lá nhỏ, phiến lá hình trứng rồng, mép có răng cưa nhỏ, mặt trên sẫm hơn, gân lá non thường có lông ngắn. Hoa đơn tính, khác gốc, cánh hoa màu vàng trắng nhạt, có mùi thơm, quả mọng chín hình cầu đường kính 5 - 7mm, khi chín có màu đỏ sẫm trong chứa 1 đến 2 hạt.
  2. Nam ngũ vị tử (Fructus Kadsurae) là quả chín phơi hay sấy khô của cây nam ngũ vị tử hay cây nắm cơm Kadsura japonica L. cùng họ Ngũ vị. Cây nam ngũ vị tử cùng họ, hình thái gần giống cây bắc ngũ vị tử nhưng khác nhau ở chỗ hoa bắc ngũ vị tử chỉ có 5 nhị còn cây nam ngũ vị có từ 10 - 15 nhị.
Bắc ngũ vị tử mọc ở Trung Quốc, Liên Xô, Triều Tiên. Ngũ vị tử Triều Tiên được coi là loại tốt. Những quả màu đỏ, hay tím đỏ, thịt dày, mẫm, bóng được coi là tốt. Nam ngũ vị tử có màu đỏ, bắc ngũ vị tử có màu đen, bắc ngũ vị tử được coi là tốt hơn.
Nam ngũ vị tử chỉ được khai thác để dùng tại chỗ nên chưa bán sang Việt Nam nhiều. Cây nam ngũ vị tử có ở Trung Quốc.

Tác dụng của ngũ vị tử

Đông y Trung Quốc và Việt Nam coi ngũ vị tử là một vị thuốc bổ thận dùng trong những trường hợp thân thể mệt nhọc, uể oải không muốn làm gì. Còn dùng để chữa ho, liệt dương.
Tính chất ngũ vị tử theo đông y là vị chua, mặn, tính ôn, không độc, vào hai kinh phế và thận. Có tác dụng liễm phế, cố thận, cố tinh, chỉ mồ hôi, dùng làm thuốc trừ đờm, tu bổ, cường âm, ích khí, bổ ngũ tạng, thêm tính trừ nhiệt.
trong đông y, ngũ vị tử là một vị thuốc dùng chữa ho, hơi thở hổn hển, ho khan, còn dùng làm thuốc cường dương, chữa liệt dương và mỏi mệt, biếng hoạt động. Tuy nhiên đối với những người có biểu tà, có thực nhiệt thì không nên dùng.
Đơn thuốc có ngũ vị tử:
  • Chữa liệt dương: Ngũ vị tử 600g tán uống, mỗi lần 4g. Ngày uống 3 lần. Kiêng thịt lợn, cá, tỏi, dấm. Uống hết đơn thuốc thì khỏe, giao hợp được (theo Thiên Kim Phương - tài liệu cổ)
  • Chữa thận hư, tiểu tiện trắng đục, đau suốt hai bên sường và lưng: Ngũ vị tử sao dòn, tán bột, lấy dấm thanh nấu hồ luyện thành viên, mỗi lần uống 30 viên, chiêu bằng nước nóng.
  • Chữa phụ nữ âm môn giá lạnh: Ngũ vị tử 160g tán bột, dùng nước tiểu trộn làm thành viên bặng hạt ngô, để vào âm môn (theo Cận Hiệu Phương - tài liệu cổ)
  • Chữa ho lâu, phổi viêm: Ngũ vị tử 80g, túc xác tầm với đường sao qua 20g, hai vị tán bột, luyện với kẹo mạch nha viên bằng quả táo mỗi lần ngậm một viên (theo Vệ sinh gia bảo - tài liệu cổ)
  • Chưa ho đờm và thở: Ngũ vị tử, bạch phàn hai vị bằng nhau, cùng tán bột, mỗi lần dùng 12g, lấy phổi lợn nướng chín, chấm bột mà ăn, chiêu bằng nước nóng (theo Phổ Tế Phương - tài liệu cổ)
Theo "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" GS Đỗ Tất Lợi